CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỘT XÁC VÀ ĐẶC ĐIỂM TĂNG TRƯỞNG Ở TÔM THẺ CHÂN TRẮNG
Cũng như các loài giáp xác khác nói chung, sự tăng trưởng của tôm thẻ chân trắng nói riêng phải trải qua quá trình lột xác. Cơ chế của sự lột xác là kết quả của một quá trình tác động cộng hưởng bởi nhiều yếu tố và cần một khoảng thời gian nhất định.
I/ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỘT XÁC
Trong điều kiện tự nhiên, tôm chỉ lột xác khi sự kết hợp chặt chẽ giữa các yếu tố bên trong cơ thể như: Nguồn lipid dự trữ ở gan, tụy tích lũy đầy đủ; sự phân chia tế bào gia tăng; các ARN thông tin được tạo thành; các cơ quan đòi hỏi phải có các hormon làm sản phẩm trung gian; và quá trình sinh tổng hợp protein mới hình thành đầy đủ ở các bộ phận cơ thể. Quá trình chuẩn bị này là một quá trình phức tạp đòi hỏi phải có thời gian.
Bên cạnh đó, các yếu tố bên ngoài như: Ánh sáng, chế độ thủy triều, nguồn dinh dưỡng, nhiệt độ, pH, oxy hòa tan, độ mặn,… cũng góp phần đến sự lột xác.
Thông thường quá trình lột xác tập trung diễn ra ban đêm; lột xác nhiều vào đầu con nước cường vì có nhiều thức ăn nhất (Tuy nhiên, trong điều kiện nuôi nhiều ao tôm lột xác cả ngày lẫn đêm và không phụ thuộc vào con nước thủy triều); nhiệt độ nước < 14oC tôm sẽ không lột xác, khi nhiệt độ trong ngưỡng thích hợp tôm sẽ tăng cường trao đổi chất và quá trình lột xác xảy ra nhanh hơn; pH thích hợp cho tôm lột xác là khoảng 7,5-8,3; Trong quá trình lột xác nhu cầu oxy của tôm là rất lớn, ở nồng độ 5-6 mg/L sẽ giúp tôm lột xác dễ dàng; độ mặn thấp thì thời gian lột xác nhanh hơn (Nhưng tôm sẽ nhẹ nếu độ kiềm và khoáng chất thấp), độ mặn 15-25 ‰ thời gian lột xác của tôm bình thường, và độ mặn > 25 ‰ gặp độ kiềm quá cao tôm sẽ chậm lột xác, chậm lớn (Nhưng chắc thịt, nặng ký).
Thường thời gian lột xác kéo dài khoảng 5-7 phút. Biểu hiện bên ngoài của sự lột xác là các mối liên kết giữa biểu bì và lớp vỏ kitin sẽ lỏng ra, lớp vỏ đầu ngực và lớp vỏ bụng tách ra ở mặt lưng, sau đó tôm co và búng thoát khỏi lớp vỏ cũ. Chất dịch lột xác tỏa ra bao gồm axit amin, enzyme và một chất hữu cơ khác bảo vệ cơ thể khỏi bị các động vật khác tấn công. Quá trình lột xác có sự chuẩn bị lâu dài, nếu như có 1 khâu nào đó bị trục trặc thì sự lột xác không xảy ra hoặc xảy ra bị sự cố dị hình, dính vỏ,…
Tùy kích cỡ tôm và chất lượng thức ăn, chất lượng nguồn nước, thời gian cứng vỏ hoàn toàn từ vài giờ (tôm nhỏ) đến hơn 1 ngày.
II/ ĐẶC ĐIỂM TĂNG TRƯỞNG
Tăng trưởng của tôm chân trắng cũng như tôm sú, sự tăng trưởng về chiều dài và trọng lượng có khác nhau. Trong khi tăng trưởng về trọng lượng gần như liên tục (Hình 1) (Trường hợp bất thường mới tăng không liên tục), thì tăng trưởng về kích thước theo “bậc thang” (Sau mỗi lần lột xác kích thước sẽ tăng nhanh bất thường (Hình 2).

III/ THỜI GIAN LỘT XÁC CỦA TÔM THẺ CHÂN TRẮNG
Nguyên lý chung là kích cỡ tôm càng lớn thì thời gian giữa 2 lần lột xác hay chu kỳ lột xác sẽ kéo dài hơn tôm nhỏ. Mặc khác, tùy điều kiện mật độ nuôi, loại tôm giống, mùa vụ, chất lượng nước và sức khỏe tôm… kích cỡ tôm có khác biệt vài g/con (So sánh cùng ngày tuổi).
| Trọng lượng tôm (g) | Ngày tuổi tôm (ngày) | Thời gian
giữa 2 lần lột xác (Chu kỳ lột xác) |
Ghi chú |
| 0,005 – 0,22 | 1 – 10 | 1 ngày | Tùy điều kiện mật độ nuôi và loại tôm giống, mùa vụ, chất lượng nước và sức khỏe tôm,… trọng lượng tôm có khác biệt vài g/con (so sánh cùng ngày tuổi) |
| 0,22 – 2,1 | 10 – 25 | 1 – 2 ngày | |
| 2,1 – 4,0 | 25 – 35 | 2 – 3 ngày | |
| 4,0 – 10,0 | 35 – 50 | 3 – 5 ngày | |
| 10,0 – 20,0 | 50 – 65 | 5 – 7 ngày | |
| 20,0 – 30,0 | 65 – 85 | 7 – 10 ngày | |
| 30,0 – 40,0 | 85 – 108 | 10 – 15 ngày | |
| ≥ 40,0 | ≥ 15 ngày |
Trong quần đàn tôm nuôi, sức khỏe tôm và môi trường tốt, ổn định thường tôm lột xác kéo dài 2-3 ngày; nếu việc quản lý không tốt quần đàn tôm nuôi có thể lột rải rác nhiều ngày liền.
Dựa vào những yếu tố phân tích trên, người nuôi có thể chủ động hơn trong khâu điều khiển chu kỳ lột xác của tôm để phù hợp với mục đích nuôi; cân xứng với thiết bị phụ trợ; sinh lý sinh trưởng của tôm và điều kiện thời tiết khí hậu; giúp tôm nuôi đồng kích cỡ hơn nhưng không lột xác đồng loạt trong ngày gây tôm nổi đầu do thiếu oxy hay chất lượng nước bị quá tải.