BÀI VIẾT, TIN TỨC & SỰ KIỆN

KỸ THUẬT NUÔI TÔM SÚ GIA HÓA HAWAII+ LINH CHI Ở MÔ HÌNH TÔM – RỪNG P2

HWP WEB Ky thuat nuoi tom su gia hoa hawaii clc o mo hinh tom rung Tran 2

II/ KỸ THUẬT NUÔI TÔM SÚ GIA HÓA Ở MÔ HÌNH TÔM-RỪNG THEO QUY TRÌNH TSCP

z7093130154000 f9a53e810a63f353567162ae28818838

– Thường xuyên kiểm tra bờ bao để kịp thời gia cố lại nhằm hạn chế tối đa thẩm lậu nước (mọi). Vì phần lớn mô hình tôm-rừng có địa chất yếu, kết cấu chất đất thường là bùn hữu cơ và sét hữu cơ do quá trình phân hủy trầm tích lâu năm. Mặt khác hệ sinh thái tôm-rừng thường rất đa dạng loài sinh vật có khả năng đào hang.

– Tùy điều kiện kinh tế của từng nông hộ, vị trí đất gần sông/Kênh cấp có nhiều phù sa hay ít phù sa (chất lơ lửng), và điều kiện tuổi cây, mật độ cây rừng hiện có trên bờ (lượng hữu cơ phân hủy từ lá, canh, cây rừng). Đây là những chất thải hữu cơ góp phần làm nhanh bồi lắng vuông và gây ô nhiễm môi trường nước, đáy và là nền tảng sản sinh ra những khí độc NH3, NO2, H2S,… Nên cần tiến hành định kỳ 2-3 năm/lần sên vét bớt lớp bùn ở đáy mương.  

– Do đặc thù riêng của mô hình tôm-rừng khó có điều kiện phơi đáy vuông nên cần tiến hành rửa mương 2-3 lần sau khi sên vét bùn xong. Ở những mô hình nông hộ quan tâm chủ yếu đến sản phẩm tôm, cá thả nuôi bổ sung, không trú trọng về sản phẩm tôm, cá tự nhiên thì thường kết hợp diệt cá tạp ở bước này.

– Nếu có điều kiện và vuông ở vùng đất phèn tiềm tàng thì cần tiến hành bón vôi khắp đáy mương.

Lưu ý: Vệ sinh kỹ sẽ giúp cho đất đáy vuông được (1) Làm sạch nền đáy; (2) Rửa phèn;  (3) Khoáng hóa đáy (Giải phóng khí độc);   (4) Tiêu diệt mầm bệnh; (5) Cải thiện môi trường đất, nước; (6) Giảm thiểu bệnh, tôm lớn nhanh, nâng cao tỷ lệ sống và năng suất tôm nuôi.

  1. Bước 2: Chuẩn bị nước

Chuẩn bị nước tốt và chủ động sẽ góp phần ổn định môi trường và hạn chế tỉ lệ hao hụt đầu con khi thả, nâng cao tỷ lệ sống tôm nuôi.z7093130857617 cf97345a9d7982d74def69c5bacf3d7d

– Chọn nước tốt: Chọn thời điểm nước lớn (cường), nước không bị phát sáng, không váng bọt, có các chỉ tiêu môi trường (pH, kiềm, mặn) tương đối phù hợp cho NTTS.

– Cách lấy nước: Nước có thể lấy từ sông/kênh trực tiếp vào vuông hay gián tiếp qua mương/khu chứa lắng. Tuy nhiên, tốt nhất nên thông qua lưới mành lọc nước hay lú thu tôm cá tự nhiên.

– Gây màu nước, tạo thức ăn tự nhiên: Việc gây màu nước trước khi thả tôm là rất cần thiết. Gây màu nước hợp lý sẽ giúp môi trường ổn định hơn, thức ăn tự nhiên phong phú hơn (trùn chỉ, luân trùng, copepoda, tảo có lợi…). Gián tiếp giúp tôm lớn nhanh, ít bệnh, đạt kích cỡ lớn. 

+ Hawaii Mix+ là sản phẩm tạo trùn chỉ, luân trùng, copepode,… nhanh nhất hiện nay.

+ Cách dùng: Tạt khắp mương trước thả giống 3-7 ngày;  Liều lượng 10 kg/10.000m2 mương.

– Kiểm tra môi trường: Cần kiểm tra các yếu tố môi trường trước khi thả tôm giống. Các yếu tố môi trường chính cần kiểm tra là pH, độ kiềm, độ trong, màu nước, NH3. Khoảng dao động phù hợp cho tôm sinh trưởng và phát triển là: pH: 7,2 – 8,5 ; Độ kiềm: 80–180 mg/L ; Độ trong: 25–30 cm; Màu nước: xanh nhạt, vàng nhạt, nâu.

– Cấy vi sinh trước khi thả tôm giống: Trước khi thả giống 1-3 ngày nên sử dụng vi sinh tạt đều khắp mặt vuông. Thực tế cho thấy: để vi sinh vật có lợi phát triển tốt nhất, tạo sinh khối ưu thế vi khuẩn có lợi kìm hãm sự phát triển vi khuẩn có hại trong môi trường nước ngay từ đầu thì có thể sử dụng liều cao hơn hướng dẫn của nhà sản xuất. 

+ Hiện nay, sản phẩm vi sinh Hawaii VS được xem là phù hợp nhất cho mô hình tôm-rừng. 

+ Liều lượng 1 kg/5.000m2.

Lưu ý: Thời gian sử dụng Hawaii Mix+  và Vi sinh tốt nhất là lúc trời nắng 9-11 giờ.

  1. Bước 3: Chọn giống và thả giống

3.1. Chọn tôm giống: Con giống có ý nghĩa rất lớn trong sự thành bại của vụ nuôi.

Chọn nơi cung cấp tôm giống có thương hiệu, uy tính và có trách nhiệm với người nuôi.

– Chọn giống đều cỡ, kích cỡ lớn (PL 12-13), phản xạ nhanh, màu sắc tươi sáng, thức ăn đầy ruột…

– Tôm Sú gia hóa Hawaii+ Linh Chi được sản xuất bởi Cty Thủy sản Châu Phi là đơn vị ưu tính, với công nghệ sản xuất tiên tiến, an toàn sinh học cao nên tôm giống sạch bệnh, sức đề kháng cao, đều cỡ, nuôi mau lớn, to con. Đây là nơi đáng tin cậy cho bà con chọn tôm giống chất lượng cao.

3.2. Thả giống: 

Nên thả sáng sớm hoặc chiều mát và thả trên gió.

– Tôm giống trước khi thả ra vuông cần thuần môi trường trước 10-15 phút tùy theo độ chênh lệch nhiệt độ, độ mặn và pH. 

– Có thể thuần môi trường bằng cách thả bọc tôm nổi trong vuông sau đó mở bao cho tôm bơi ra từ từ. Hay thuần trong dụng cụ sạch sau đó cho nước vuông vào từ từ. 

Lưu ý: + Dụng cụ thuần phải sạch, không mùi lạ (như thùng xốp mới, dụng cụ còn mùi hóa chất, dơ bẩn…) và tốt nhất nên cung cấp oxy trong suốt thời gian thuần.

+ Nên thông báo với nơi cung cấp tôm giống về độ mặn trước 2-5 ngày.

+ Đại lý nên phân phối tôm đến người nuôi và người nuôi nên thả tôm ra vuông ngay sau khi nghiệm thu xong, không nên để bọc hay thùng tôm nằm yên tĩnh quá lâu, vì tôm sẽ bị thiếu oxy cục bộ, yếu, cắn nhau. 

+ Riêng đối với tôm giống Cty Châu Phi đã thuần hóa theo yêu cầu cụ thể của từng vuông nên có thể thả ngay khi nhận tôm.

3.3. Mật độ và số lần thả giống: 

Tùy theo hiện trạng cơ sở hạ tầng, khả năng đầu tư và quản lý của từng hộ nuôi… chọn mật độ thả và số lần thả giống/vụ cho thích hợp với từng điều kiện cụ thể. Quy trình Thủy sản Châu Phi (TSCP) khuyến cáo thả tôm Sú gia hóa Linh Chi + như sau:

– Tổng số lần thả giống trong năm: Tốt nhất khoảng 4-5 lần/năm, ở 2 lần đầu cách nhau khoảng 1,5-2 tháng, ở các lần sau nên cách nhau 2,5-3 tháng/lần. 

– Mật độ thả: 2 lần đầu từ 2-3 con/m2 mặt nước; các lần sau từ 1,5-2 con/m2. Đảm bảo tổng lượng tôm giống ≤ 9 con/m2/năm (chung cho các lần thả, chưa tính thu tỉa) là phù hợp và mang lại hiệu quả cao nhất.

Lưu ý: (1) Thường tôm giống sẽ không đạt tỷ lệ sống cao nếu chúng ta thuần hóa ngược (bị sốc ngược) độ mặn. Thuần hóa ngược tức là nâng độ mặn tăng trở lại. 

(2) Ở những nông hộ có điều kiện thiết kế thêm khu ương/gièo tôm riêng biệt thì có thể thả 5-6 lần/năm, tuy nhiên tổng số lượng tôm giống cũng không nên quá > 10 con/m2.

(3) Mô hình tôm-rừng có thể thả nuôi kết hợp với cua (mật độ cua giống từ 0,5-0,7 con/m2), kết hợp với thả cá, hay thả bổ sung nghêu sò.

  1. Bước IV: Quản lý môi trường và sức khỏe tôm

Trong tự nhiên, sinh vật và môi trường sống luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đặc biệt đối với môi trường thủy sinh vật. Môi trường sống thay đổi theo chiều hướng tốt, thuận lợi thì thủy sinh vật tồn tại và phát triển. Môi trường sống thay đổi theo chiều hướng xấu, không thuận lợi thì những thủy sinh vật nào thích ứng sẽ duy trì được cuộc sống, những sinh vật nào không thích ứng sẽ bệnh và chết. Tôm nuôi trong vuông cũng là một sinh vật sống nên cũng chịu tác động bởi quy luật trên.

4.1. Công việc quản lý

Thường xuyên theo dõi màu nước, độ trong nước; quan sát màu sắc cơ thể, mang, hệ thống gan tụy, hệ thống tiêu hóa và độ sáng của mắt tôm, hành vi bơi lội, độ phản xạ của tôm.

– Tôm khỏe mạnh các phụ bộ nguyên vẹn; màu sắc tươi sáng; mang sạch; thân cứng chắc; không có biểu hiện đứt râu, phồng bóng nước, chấm đen, mềm; thức ăn đầy ruột.

– Kiểm tra tăng trọng: Nên định kỳ 10-15 ngày/lần kiểm tra trọng lượng tôm để xác định tăng trưởng và lên kế hoạch điều chỉnh thả giống bổ sung, điều chỉnh màu nước, thức ăn tự nhiên và sử dụng vi sinh.

– Định kỳ 3-7 ngày kiểm tra độ kiềm, khí độc, độ mặn, độ sâu nước để kịp thời điều chỉnh.

Lưu ý: Thông thường tôm chuẩn bị lột sẽ mềm, vỏ sậm màu hơn; tôm vừa mới lột cũng mềm nhưng vỏ trong mỏng hơn.

4.2. Thông số chất lượng nước

Trong thực tế, người nuôi ít quan tâm đến các yếu tố môi trường trong thời gian nuôi. Tuy nhiên Quy trình TSCP tôm-rừng khuyến cáo người nuôi nên quan tâm đến một số yếu tố môi trường như: pH, độ kiềm, độ mặn, màu nước và Ammonia tổng.

Khoảng dao động các yếu tố môi trường nuôi tôm thích hợp nhất

Thông số Đơn vị Khoảng thích hợp nhất
pH 7,2 – 8,2;  biến động trong ngày < 0,5
Ðộ kiềm mg/L 100 – 180
Ðộ mặn S‰ 10 – 25
Màu nước Vàng rơm, vàng xanh, xanh nhạt
Ammonia tổng cộng (NH4+-N) mg/L 3

4.3. Các giải pháp thực hiện quản lý môi trường và sức khỏe tôm

(1) Sử dụng vi sinh định kỳ

– Đối với mô hình nuôi tôm QCCT tôm-rừng, đây là môi trường nuôi hở, diện tích lớn nên việc kiểm soát mầm bệnh rất khó khăn, chỉ có thể quản lý phòng bệnh bằng quản lý các yếu tố đầu vào. 

– Việc sử dụng vi sinh định kỳ trong quản lý môi trường và quản lý sức khỏe tôm nuôi là yêu cầu cần thiết và đã được nhiều nơi áp dụng mang lại hiệu quả kinh tế. 

– Việc sử dụng vi sinh đúng cách, đúng liều, đúng thời gian không những giảm chi phí, môi trường nuôi được cải thiện, hạn chế vi khuẩn có hại phát triển, còn giúp tôm cải thiện tăng trưởng, đáp ứng miễn dịch và tăng sức đề kháng từ đó tôm ít bệnh và chất lượng tôm được nâng cao, ATTP. 

– Khuyến cáo nên sử dụng vi sinh Hawaii VS định kỳ 10-15 ngày/lần suốt vụ nuôi. Liều lượng 1 kg/lần/10.000m2 mặt nước.

(2) Duy trì tạo thức ăn tự nhiên và màu nước

– Đối với mô hình tôm-rừng ở những tiểu vùng có nguồn nước sông/kênh nhiều chất lơ lửng, trên bờ có cây rừng mật độ dày và tuổi cây rừng lớn thì giai đoạn khoảng 20 ngày đầu có thể không cần bón phân gây màu. Tuy nhiên nếu những vuông nghèo dinh dưỡng, phèn nhiều, nguồn nước sông/kênh trong, ít chất lơ lửng và trên bờ ít cây rừng, cây rừng còn nhỏ thì nên bón phân nhẹ với liều 0,5 kg (DAP hoặc NPK hoặc Ure) / 5.000 m2. 

– Sau đó tốt nhất định kỳ 20-30 ngày/lần bón. Liều lượng từ 0,3-0,5 kg (DAP hay Ure, NPK)/5.000 m2/lần tùy màu nước và độ trong. 

– Định kỳ 10-15 ngày sử dụng Hawaii Mix+ để tạo trùn chỉ, luân trùng, copepode,… Liều lượng 1 kg/1.000m2 mặt nước. 

Lưu ý: + Phân phải ngâm và hòa tan hoàn toàn trước khi tạt xuống mương.

+ Nên sử dụng xen kẽ giữa các lần bón phân và Hawaii Mix+

+ Có thể sử dụng cành lá cây mắm, cây đước đưa xuống mương để các vi sinh vật bám và phân hủy các cành lá cây này tạo thành thức ăn tự nhiên cho tôm. Tuy nhiên, việc đưa những cành lá cây xuống mương nhiều hay ít cần xem xét đến độ tuổi của cây rừng và mật độ cây rừng đang phát triển, và cần xem xét đến mùa vụ lá rụng. Ở những mô hình cây rừng còn non tuổi (< 3 năm) và mật độ cây rừng thưa thì có thể đưa cành, lá cây dọc theo các mương nước. Đối với mô hình có tuổi cây rừng cao (> 3 năm) và mật độ cây rừng dày, mùa lá rụng nhiều thì chỉ cần bổ sung phân vô cơ định kỳ.

(3) Thay nước mới

Khi điều kiện môi trường xấu, có dấu hiệu biến động lớn hay tôm có những biểu hiện bất thường (như đóng rong, đóng khối đèn, mang đen, mang vàng, cụt râu, cụt đuôi, phồng bóng nước,…) cần tiến hành ngây việc thay nước mới hoặc cấp nước bổ sung để giúp cải thiện môi trường và sức khỏe tôm. Việc thay nước mới hoặc cấp nước bổ sung hợp lý sẽ giúp kích thích tôm lột xác nhanh, mau lớn.

Lưu ý: + Mỗi lần thay hoặc cấp nước mới từ 20-40% lượng nước trong vuông. Không nên thay hoặc cấp quá nhiều cho mỗi lần dễ gây sốc cho tôm. Có thể chia thay 2-3 ngày.

+ Cần chú ý chọn thời điểm nước tốt để thay hoặc cấp.

+ Đối với tôm sú gia hóa thường bơi lội nhiều hơn tôm sú thường (đặc biệt khi có nước mới tôm di chuyển nhiều đến vị trí nước mới) nên cần lưu ý khi thay hoặc cấp nước mới nên thực hiện từ từ hoặc dùng  lưới mành ngăn ở đoạn mương hoặc đoạn miệng gần cống để tránh thất thoát tôm.

(4) Sử dụng vôi

Mục tiêu của việc sử dụng vôi trong thời gian nuôi tôm là: ổn định pH và nhiệt độ (theo hướng nâng cao); tăng độ kiềm; khử phèn. Bên cạnh đó, vôi còn có tác dụng giúp tôm nhanh cứng vỏ sau khi lột.

 Lưu ý: + Tốt nhất nên sử dụng vôi vào ban đêm từ 19-21h hoặc sáng sớm. Tránh sử dụng vôi  khi trời nắng.

+ Nên sử dụng vôi định kỳ 15-20 ngày/lần với liều lượng 10-25 kg/5.000m3. 

5 Bước V: Thu hoạch

– Cũng như mô hình nuôi tôm QCCT khác, việc thu hoạch tôm ở mô hình tôm-rừng thực hiện theo con nước thủy triều và thu tỉa những con đạt kích cỡ thương phẩm.

Votes

Related Posts