TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ DỊCH BỆNH THỦY SẢN ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG – P2
Xây dựng hệ thống quản lý thống nhất, dữ liệu số và cảnh báo sớm
Trước những tồn tại trên, Cục TSKN đã đề xuất một loạt định hướng và giải pháp quản lý mới nhằm chủ động ứng phó với dịch bệnh, đảm bảo phát triển nuôi trồng thủy sản an toàn, hiệu quả và bền vững.
Thứ nhất, ngành thủy sản xác định cần xây dựng bộ máy quản lý nhà nước về thú y thủy sản theo hướng thống nhất đầu mối từ Trung ương đến địa phương, đảm bảo chỉ đạo xuyên suốt, rõ trách nhiệm, tránh chồng chéo giữa các cơ quan. Bộ Nông nghiệp và Môi trường được đề nghị rà soát, sửa đổi và đồng bộ hóa hệ thống văn bản pháp luật về thú y thủy sản, phù hợp với mô hình quản lý mới và thực tiễn sản xuất.
Thứ hai, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dịch tễ thủy sản là nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn 2025 – 2026. Cơ sở dữ liệu này sẽ kết nối thông tin giữa các viện nghiên cứu, trung tâm kiểm nghiệm, phòng thí nghiệm doanh nghiệp và các địa phương, tạo nền tảng cho việc ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo (AI) và chuyển đổi số trong giám sát, phân tích và dự báo dịch bệnh. Đây được xem là một trong những bước đi quan trọng hướng tới “quản lý dịch bệnh chủ động”, thay vì chỉ ứng phó sau khi dịch xảy ra.
Thứ ba, Cục TSKN đề xuất tăng cường liên thông giữa công tác quan trắc môi trường và phòng chống dịch bệnh, thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý và chính quyền địa phương trong giám sát, cảnh báo, xử lý dịch. Các địa phương được khuyến khích xây dựng vùng nuôi an toàn dịch bệnh, tiến tới cấp chứng nhận cơ sở an toàn dịch bệnh thủy sản (ATDB). Theo số liệu cập nhật tới tháng 10/2025, cả nước đã có gần 1.200 cơ sở được chứng nhận ATDB, tăng hơn 20% so với cùng kỳ năm 2024.
Ngoài ra, việc nghiên cứu, sản xuất và sử dụng vắc xin, chế phẩm sinh học trong phòng bệnh thủy sản sẽ tiếp tục được ưu tiên. Cục TSKN đang phối hợp với các viện nghiên cứu như Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II, Trường Đại học Nha Trang và một số doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực sinh học thủy sản để thử nghiệm và đăng ký các sản phẩm vắc-xin mới cho cá tra, cá rô phi và tôm thẻ.
Tăng cường vai trò phối hợp giữa trung ương, địa phương, doanh nghiệp và người nuôi
![]() |
Đối với Cục TSKN, cần tiếp tục tham mưu cho Bộ Nông nghiệp và Môi trường trong việc hoàn thiện hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về dịch bệnh thủy sản theo hướng tập trung và thống nhất. Đồng thời, Cục sẽ xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dịch tễ thủy sản, đảm nhận vai trò điều phối các hoạt động giám sát, phòng chống dịch trên phạm vi toàn quốc.
Đối với các Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố, cần kiện toàn bộ máy quản lý thú y thủy sản cấp tỉnh, bảo đảm đủ nhân lực và nguồn lực thực hiện công tác giám sát, phòng chống dịch. Các Sở cũng cần chủ động tham mưu UBND cấp tỉnh bố trí ngân sách trung hạn, dài hạn cho công tác phòng chống dịch, đồng thời tăng cường kiểm tra, hướng dẫn các cơ sở nuôi về quy trình an toàn sinh học và khai báo dịch bệnh đúng quy định.
Với các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, Cục TSKN khuyến khích đăng ký và được chỉ định tham gia hoạt động xét nghiệm bệnh thủy sản, đồng thời tuân thủ nghiêm quy định công bố kết quả nghiên cứu để tránh tác động tiêu cực đến thị trường. Cục cũng đề nghị các đơn vị phối hợp chia sẻ dữ liệu quan trắc, giám sát dịch bệnh với cơ quan quản lý, phục vụ cảnh báo sớm và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Về phía người nuôi và cộng đồng, việc nâng cao nhận thức về an toàn sinh học và tuân thủ khai báo dịch bệnh được coi là yếu tố quyết định. Cục TSKN đề nghị người nuôi không tự ý công bố thông tin dịch bệnh chưa được xác minh, đồng thời chủ động tham gia các chương trình chứng nhận cơ sở an toàn dịch bệnh, vùng nuôi an toàn, góp phần xây dựng hình ảnh ngành thủy sản Việt Nam minh bạch, an toàn và có trách nhiệm.
Theo thống kê mới nhất (tháng 11/2025), hiện có trên 5.000 ha vùng nuôi tôm và 3.200 ha vùng nuôi cá tra đã đăng ký xây dựng mô hình vùng nuôi an toàn dịch bệnh, trong đó gần một nửa đạt tiêu chuẩn cấp tỉnh. Đây được xem là hướng đi phù hợp giúp tăng sức cạnh tranh và đảm bảo yêu cầu xuất khẩu sang các thị trường lớn như Trung Quốc, EU và Hoa Kỳ.
Công tác quản lý dịch bệnh thủy sản không chỉ là nhiệm vụ của ngành mà còn gắn trực tiếp với phát triển kinh tế, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, mưa lũ cực đoan và ô nhiễm nguồn nước diễn biến khó lường, việc xây dựng hệ thống quản lý dịch bệnh thống nhất, chủ động và ứng dụng công nghệ số là bước đi tất yếu.
Theo định hướng giai đoạn 2026 – 2030, Cục TSKN sẽ hoàn thiện mạng lưới giám sát chủ động quốc gia, tích hợp hệ thống dữ liệu môi trường – dịch bệnh – sản xuất trên nền tảng số, hướng tới cảnh báo sớm và ứng phó nhanh, giảm thiểu thiệt hại và nâng cao hiệu quả sản xuất. Đồng thời, ngành thủy sản đặt mục tiêu đến năm 2030, trên 70% vùng nuôi tập trung đạt chứng nhận an toàn dịch bệnh và 100% cơ sở nuôi trọng điểm có đăng ký giám sát môi trường định kỳ.
Những giải pháp mà Cục TSKN đưa ra hướng tới xây dựng nền thủy sản hiện đại, bền vững, có khả năng chống chịu cao trước biến động. Từ đổi mới hệ thống quản lý, phát triển dữ liệu số, tăng cường liên kết liên ngành đến nâng cao nhận thức cộng đồng, tất cả đều hướng đến mục tiêu chung: giữ vững sinh kế cho người dân, đảm bảo an toàn thực phẩm và nâng cao vị thế thủy sản Việt Nam trên trường quốc tế.
